Trà Vinh là địa bàn có nhiều dân tộc cùng sinh sống, trong đó đông nhất là ba dân tộc Kinh, Khmer, Hoa.

Cộng đồng người Hoa Trà Vinh lưu giữ những tín ngưỡng và lễ hội dân gian truyền thống khá độc đáo, tiêu biểu là tín ngưỡng thờ Quan Thánh đế, tín ngưỡng thờ Bổn đầu công và tín ngưỡng Bảo sanh đại đế. Trong đó, Phước Thắng cung tọa lạc tại ấp Mé Rạch B, xã Đại An, huyện Trà Cú là cơ sở tín ngưỡng thờ Bảo sanh đại đế với Nguyên tiêu thắng hội nổi tiếng, thu hút cộng đồng cư dân địa phương và đông đảo người Hoa khắp các tỉnh thành Nam bộ cùng về tham dự.

DSC01993

Ngày nay, Nguyên tiêu thắng hội, hay còn gọi là lễ hội Cúng Ông Bảo, tại Đại An (Trà Cú) là một trong những lễ hội dân gian tiêu biểu của cộng đồng các dân tộc Trà Vinh, được ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy hoạch là địa chỉ văn hóa tâm linh trong chuỗi các địa điểm du lịch trên địa bàn ven sông Hậu thuộc huyện Trà Cú.

Ông Bảo hay Bảo sanh đại đế tên thật là Ngô Bản, thường được gọi là Ngô Chân nhân, người đời Tống bên Trung Hoa. Ông là một vị đại danh y tài đức vẹn toàn, trọn đời hết lòng vì sức khỏe người dân, không mưu cầu danh lợi, tiền tài hay quyền lực. Vì vậy, sau khi từ trần, Ngô Chân nhân được người dân Trung Hoa tôn bái làm Bảo sanh đại đế và được các triều đại sau này phong là Đại đạo Chân nhân.

Nếu Quan Thánh đế là vị thánh tiêu biểu về khí phách quân tử, Bổn đầu công là vị thần bảo đảm cho nơi cư trú, việc làm ăn sung túc, thì Bảo sanh đại đế là vị thần cai quản về sức khỏe. Tín ngưỡng dân gian này được các thế hệ Hoa kiều Nam bộ nói chung, tại Trà Vinh nói riêng hết lòng tôn thờ, chiêm bái.

Phước Thắng cung là cơ sở tín ngưỡng thờ Bảo sanh đại đế duy nhất tại Trà Vinh, nên còn được gọi là chùa Ông Bảo. Ngôi chùa này được kiến trúc theo kiểu “nội công ngoại quốc” truyền thống của người Hoa. Mặt bằng tổng thể gồm hai tòa Tiền điện và Chánh điện nằm song song nhau quay mặt về hướng nam, nơi có con sông nhỏ ăn thông ra sông Hậu. Hai bên là hai dãy Đông lang và Tây lang hướng vào hai tòa nhà chính, hình thành một công trình khép kín. Nhìn chung, tòa Tiền điện và Chánh điện là những kiến trúc nghệ thuật mang đậm phong cách truyền thống Trung Hoa. Bộ khung ngôi nhà làm bằng gỗ quý, chạm trỗ rất tinh xảo và được sơn son thếp vàng, tạo ra không khí uy nghiêm của nơi thờ tự. Mái ngói lưu ly và ngói âm dương cùng những đầu đao cong vút trang trí hình lưỡng long chầu nguyệt, long vân phó hội… Các vách tường tòa Tiền điện và Chánh điện trang trí bởi nhiều bức bích họa, phù điêu thể hiện các điển tích Trung Hoa cổ như Đào viên kết nghĩa, Bát tiên quá hải, Quan thánh phò nhị tẩu, Gia quan tấn lộc, Bao công xử án… Nội thất ngôi chùa còn có những bức hoành phí, liễn đối bằng chữ Hán, thể hiện công đức các vị thần thánh, biểu dương lòng nhân ái bao dung, tiết tháo chính nhân quân tử…

Tòa Chánh điện Phước Thắng cung thờ Bảo sanh đại đế ở án thờ gian giữa cùng một số thần linh ở án thờ tả, hữu như Quảng trạch tôn vương, Phước đức chính thần, Ngũ vị chi thần, Tam bình tổ sư. Ngoài ra, trong khuôn viên ngôi chùa, ban quản trị còn đưa vào phối tự nhiều vị tiên phật thánh thần như Phật Thích ca, Đạt ma tổ sư, Cửu huyền thất tổ, Tiên hiền – hậu hiền, Bà Chúa xứ, Neakta… Đây là hiện tượng hỗn dung tín ngưỡng độc đáo, thể hiện sự giao lưu văn hóa, tình đoàn kết giữa các dân tộc cùng cộng cư tại địa phương.

Chung quanh Phước Thắng cung trên địa bàn xã Đại An (nay được chia tách thành xã Đại An, xã Đinh An và thị trấn Định An) còn có nhiều ngôi chùa, đình, miếu tạo thành một quần thể các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng liên hoàn nhau.

Trong một năm, tại Phước Thắng cung có nhiều lễ cúng tế nhưng quan trọng nhất là Nguyên tiêu Thắng hội, hay còn gọi là lễ hội Cúng Ông Bảo, diễn ra trong hai ngày Rằm và Mười sáu tháng Giêng âm lịch, với đường dây kịch bản khá chặt chẽ.

Sáng sớm ngày Rằm tháng Giêng, với tất cả lòng thành, người dân Đại An mang lễ vật và cùng nhau dọn dẹp trang hoàng trong ngoài ngôi chùa, chuẩn bị lễ Khai tràng nhập hội. Đến trưa, nghi thức đầu tiên này được tiến hành. Vị cố vấn đóng vai trò chủ tế cùng các thành viên ban quản trị và các bô lão tề tựu trước án thờ dâng hương đăng, lễ vật khấn nguyện, kính báo đức ông Bảo sanh đại đế cùng chư vị thần thánh ngày Nguyên tiêu đã đến, cung thỉnh chư vị thánh thần cùng về ngự, chứng giám lòng thành của người dân. Sau lễ Khai tràng nhập hội, lễ hội Nguyên tiêu chính thức bắt đầu.

Ngay sau đó, ở các gian phối tự, dân làng tiến hành lễ Cầu an, lễ tế Tiền chức (Tiên hiền – hậu hiền), tế bà Chúa Xứ và tế Neakta. Các nghi lễ này thể hiện sự tôn trọng, giao lưu văn hóa – tín ngưỡng giữa các dân tộc cùng sinh sống bên nhau vừa thu hút đông đảo hơn sự có người dân về dự hội, không phân biệt người Hoa, người Kinh hay người Khmer; người theo tín ngưỡng thờ ông Bảo hay đồng bào phật tử.

Buổi chiều, không khí bên trong khuôn viên Phước Thắng cung nhộn nhịp hẳn lên, chuẩn bị tiến hành lễ Nghinh thần, hay còn gọi là lễ Rước cộ. Đây vừa là lễ thức vừa là hình thức diễn xướng dân gian để mọi người cùng tham gia. Đúng 18 giờ, vị chủ tế cùng các bô lão tề tựu trước án thờ đức ông khấn vái, cung thỉnh kim tượng đức ông Bảo sanh đại đế, Quảng trạch tôn vương và Phước đức chính thần cùng lên kiệu vàng. Ngay sau đó, ba hồi tù và vang lên, báo hiệu đám rước bắt đầu. Mở đường là đoàn âm binh thần tướng, gồm hàng chục thanh thiếu niên lưng trần hóa trang bằng lọ nghẹ, phẩm màu, tay cầm đuốc hoặc cành cây, vừa đi vừa chạy, múa chân múa tay. Kế đến là đội lân sư rồng vừa đi vừa múa theo nhịp trống rộn rã. Trên đường đi, đoàn lân có thể tạt vào những ngôi nhà hai bên đường, tiếp nhận lễ vật dâng cúng và ban phước lành cho gia chủ. Theo sau đội lân là hai trung niên vận lễ phục trang nghiêm, đi song song nhau, một người cầm lồng đèn to có chữ Phước Thắng cung, một người cầm biểu tượng con vật cầm tinh trong năm mới âm lịch. Phía sau tiếp tục là đội phèn la, đội cờ hiệu, đội lồng đèn và đuốc, đội cờ Ông nhiều màu sắc.

Cách khoảng vài mươi mét là kiệu âm binh, với các chiếc bình đựng gạo và muối hột trộn lẫn vào nhau. Vừa đi, người trên kiệu sẽ vãi gạo muối ra bên ngoài, hàm ý trừ tà ma, dịch bệnh cho dân làng.

Trung tâm của đám rước là chiếc kiệu Ông được trang hoàng lộng lẫy đi giữa hai hàng quân, mỗi hàng tám người, tay cầm binh khí lấy từ lỗ bộ trước án thờ Bảo sanh đại đế, được hộ tống bằng dàn nhạc lầu cấu vang lừng âm thanh. Kết thúc là dân làng bổn hội và khách thập phương về dự hội.

Khởi đi từ Phước Thắng cung, đám rước hướng về ngôi Bảo an miếu thờ bà Thiên Hậu gần chợ Đại An. Vị chủ tế cùng các vị bô lão vào miếu thực hiện nghi thức khấn vái, rồi cung thỉnh Thánh mẫu, tượng trưng bằng chiếc lư hương trước án thờ bà Thiên Hậu lên cùng ngự trên kiệu Ông. Việc đức Ông và Thánh mẫu cùng ngự trên chiếc kiệu giữa đám rước, thể hiện ước vọng âm dương hòa hợp, vạn vật sinh sôi nẩy nở, dân làng no đủ lâu bền. Đám rước tiếp tục di chuyển về Thánh thất Cao Đài vào chánh điện tế lễ, rồi tiếp tục di chuyển sang ngôi chùa Khmer Phnô Đôn (Chùa Cò) chiêm bái đức Phật. Nghi thức Nghinh ông hàm ý đưa đức ông Bảo sanh đại đế (tín ngưỡng người Hoa) đến ra mắt, chào hỏi chư thánh Cao Đài (tôn giáo người Kinh) và đức Phật (tôn giáo người Khmer), thể hiện tình hòa hảo, hiếu thuận, kết đoàn giữa ba dân tộc anh em trên địa bàn Đại An có phúc cùng hưởng, có họa cùng chia.

Trên những nẻo đường đám rước đi qua, nhà nhà không phân biệt dân tộc, tôn giáo đều lập bàn hương án trước ngõ cung nghinh đức Ông. Khi kiệu Ông đến, già trẻ lớn bé trong nhà tề tựu trước hương án, thắp hương khấn vài và nhận một ít gạo muối, xem như “lộc thánh” mà đức Ông Bảo sanh đại đế ban phát cho dân làng.

Tuy quảng đường chỉ hơn 5 km cả đi và về nhưng do thực hiện nhiều hình thức diễn xướng dân gian, đoàn đi rất chậm, đến quá nửa đêm mới trở về đến Phước Thắng cung.

Sau khi về đến Phước Thắng cung, nghi thức An vị được tiến hành. Vị chủ tế và các bậc bô lão cung thỉnh đức ông Bảo sanh đại đế cùng chư vị thánh thần trên kiệu trở về an vị trên án thờ.

Sáng ngày Mười sáu tháng Giêng, nghi thức cuối cùng của Nguyên tiêu thắng hội là lễ Tạ ơn được tiến hành. Khi đông đủ dân làng bổn hội và khách thập phương dự hội tập trung trước án thờ Bảo sanh đại đế trong ngôi chánh điện, vị chủ tế thắp hương đăng, dâng các lễ vật cúng tế bày tỏ lòng thành kính biết ơn của bá tánh trong một năm qua được đức ông Bảo sanh đại đế, chư vị thánh thần gia ơn độ trì cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, con người ấm no, hạnh phúc.

Nguyên tiêu thắng hội tại Phước Thắng cung (Đại An, Trà Cú) là một lễ hội xuất phát từ tín ngưỡng dân gian tiêu biểu của đồng bào người Hoa Nam bộ. Theo thời gian, lễ hội này đã trở thành tài sản văn hóa chung, có giá trị tăng cường tình đoàn kết của cộng đồng các dân tộc Kinh, Khmer, Hoa Trà Vinh vừa thể hiện ước vọng ấm no, hạnh phúc lâu dài của con người.

Ngày 14/10 âm lịch, trên dòng sông Long Bình diễn ra lễ hội đua ghe Ngo sôi nổi giữa tiếng nhạc Ngũ âm vang lừng, tiếng hò reo cổ vũ vang dậy của hàng chục ngàn người dự khán. Các đội đua từ các huyện, thành phố trong tỉnh và các tỉnh lân cận mang đến lễ hội không khí tưng bừng, cuồng nhiệt.

 IMG 6044

Đua ghe Ngo vừa là trò chơi dân gian, vừa tỏ sức mạnh và sự đoàn kết, vừa là nghi thức truyền thống tiễn đưa thần Nước sau mùa gieo trồng về với biển cả, cũng là nghi thức tôn giáo của người Khmer tưởng nhớ rắn thần Nagar xưa từng biến thành đoạn gỗ đưa đức Phật qua sông.

Vu lan thắng hội, hay còn gọi là lễ hội Cúng Ông Bổn Cầu Kè, diễn ra vào những ngày 25 – 28 tháng Bảy âm lịch, tại thị trấn Cầu Kè mà địa điểm chính là Vạn Niên Phong Cung hay còn gọi là Chùa Chợ (vì gần chợ Cầu Kè) tọa lạc tại khóm 1. Đây là một trong những lễ hội dân gian truyền thống gắn với tín ngưỡng thờ Ông Bổn của cộng đồng người Hoa Trà Vinh cũng như các tỉnh Nam bộ.

DSC03587

Ông Bổn, hay còn gọi là Bổn Đầu công tên thật là Trịnh Tu Hòa, vốn là quan thái giám được hoàng đế nhà Minh cử đi sứ nhằm thương thuyết với triều đình các nước Đông Nam Á tạo điều kiện dễ dàng cho người Hoa di cư làm ăn sinh sống. Sau khi ông mất, vua nhà Minh ban sắc phong thần và Hoa kiều các nước Đông Nam Á xem ông là vị phúc thần cai quản về an cư lạc nghiệp.

Truyền thuyết là vậy nhưng Ông Bổn mà đồng bào người Hoa Cầu Kè tôn thờ lại là bốn anh em kết nghĩa, tương truyền có công đưa thế hệ Triều Châu đầu tiên di cư đến vùng đất ven sông Hậu này và khi mất đều hiển thánh. Trong đó, Minh Ðức Cung (Chùa Giồng Lớn, xã Hòa Ân) thờ ông Nhứt; Vạn Ứng Phong Cung (Chùa Giữa, xã Hòa Ân) thờ ông Nhì; Vạn Niên Phong Cung (Chùa Chợ, thị trấn Cầu Kè) thờ ông Ba và Niên Phong Cung (Chùa Cây Sanh, xã Tam Ngãi) thờ ông Tư. Ngoài ra, trên địa bàn Cầu Kè còn có hai ngôi chùa thờ Ông Bổn nữa là Vạn Đức Phong Cung (Tam Ngãi) và Thiên Đức Cung (Hòa Ân) cùng một số ngôi chùa cùng loại rải rác các huyện trong tỉnh.

Lễ hội Cúng Ông Bổn đều được tiến hành vào mùa Vu lan và do có đến 6 ngôi chùa nên lễ hội Cúng Ông Bổn gần như diễn ra trong cả tháng Bảy âm lịch. Trong đó, Vạn Niên Phong Cung với lợi thế nằm ở trung tâm thị trấn, giao thông thủy bộ thuận tiện, đời sống người dân sung túc nên được chọn là lễ hội chính.

Lễ hội Cúng Ông Bổn Cầu Kè diễn ra từ 25 đến 28 tháng Bảy âm lịch, mà người dân Cầu Kè hay nhắc nhau qua câu thiệu: “Hai lăm vào đám, Hai tám ra giàn”. Trong 4 ngày lễ hội có đến 20 lễ thức liên hoàn nhau trong một lịch bản rất chặt chẽ.

Ngày 25 tháng Bảy, diễn ra 8 lễ thức, bao gồm lễ Thỉnh chư Phật, chư Thần Thánh; Lễ Thỉnh kinh – đánh động; Lễ Hương tác; Lễ Trình tổ khai chung; Lễ Khai quang; Lễ Khai kinh; Lễ Xá hạc và Lễ Cầu quốc thái dân an. Trong đó, quan trọng và đông vui nhất là hai lễ Thỉnh chư Phật – chư Thần Thánh và Lễ Thỉnh kinh – đánh động.

- Lễ Thỉnh chư Phật – chư Thần Thánh được tiến hành vào sáng sớm ngày 25/7 âm lịch. Vị chủ lễ, ban quản trị chùa cùng đông đảo bà con bổn hội, đồng bào phật tử trong vùng tề tựu tại khuôn viên Vạn Niên Phong Cung, hình thành đám rước diễu hành qua các con phố chính, qua xã Hòa Ân, Tam Ngãi cung thỉnh chư Phật, chư Thần Thánh về Vạn Niên Phong Cung cùng Bổn Đầu công chứng giám và phối hưởng phẩm vật dâng làng dâng cúng. Bên cạnh các Thần Thánh theo tín ngưỡng người Hoa như Quan Thánh đế, bà Thiên Hậu… còn có các vị Thần theo tín ngưỡng người Kinh (Thần Thành hoàng bổn cảnh), tín ngưỡng người Khmer (Neakta). Nghi thức này thể hiện tinh thần đoàn kết, chia ngọt sẻ bùi giữa các dân tộc, các tôn giáo – tín ngưỡng mà cộng đồng dân cư Cầu Kè chăm chút gìn giữ, lưu truyền từ đời này sang đời khác.

- Lễ Thỉnh kinh – đánh động được tiến hành vào chiều ngày 25/7 âm lịch. Đám rước được hóa trang thành thầy trò Tam Tạng, diễn lại tích đi Tây phương thỉnh kinh. Nhờ những người vào vai Tề Thiên, Bát Giới, Sa Tăng và cả các yêu quái đều là những người giỏi võ đạo kinh kịch Trung Quốc cũng như hát bội Việt Nam nên nghi thức này là màn biểu diễn nghệ thuật, vũ thuật ngay trên tuyến phố chính, rất được người dân sở tại và khách thập phương về dự hội ưa chuộng.

Ngày 26/7 âm lịch có 5 lễ thức chính là Lễ Thuyết khoa nghinh cô hồn; Lễ Thỉnh thùng bổn mạng; Lễ Tế Tiên hiền – Hậu hiền; Lễ Cầu siêu; Lễ Giương phan. Trong đó, Lễ Thuyết khoa nghinh cô hồn được tiến hành vào lúc rạng sáng là lễ thức chính của mùa Vu lan báo hiếu. Lễ Giương phan được tiến hành vào buổi chiều, với hai cây phan được giương cao giữa khuôn viên Vạn Niên Phong cung, hàm ý các cô hồn chưa siêu thoát tề tựu sẽ được che chở của chư Phật và chư Thần Thánh.

Ngày 27/7 âm lịch có 2 lễ thức chính là Lễ Cúng ngọ và Lễ Cầu siêu xà mã. Trong hai lễ thức này, chư tăng ni, hòa thượng lập trai đàn, tiếp tục đọc kinh cầu siêu để các cô hồn đói khát vất vưỡng quanh năm được một ngày no đủ, yên tâm nghe kinh mà sớm siêu thăng về miền tịnh độ.

Ngày 28/7 âm lịch diễn ra 4 lễ thức chính là Lễ Bái xám – Hoàn kinh – Xá hạc; Lễ Thỉnh tượng ngoại đàn; Lễ Phóng đăng – Phóng sinh và Lễ Chiêu u cô hồn – Đăng đàn thí thực.

- Lễ Bái xám – Hoàn kinh – Xá hạc và Lễ Thỉnh tượng ngoại đàn là nghi thức kết thúc phần trai đàn dâng cúng chư Phật, chuyển qua các lễ vật thông thường dâng cúng chư Thần Thánh. Lễ Phóng đăng – Phóng sinh được tiến hành bên bờ sông Cầu Kè, hàm ý tế Hà Bá cùng các Thủy thần…

- Lễ Chiêu u cô hồn – Đăng đàn thí thực là lễ thức chính, thu hút đông đảo người dân địa phương và khách thập phương về dự hội tham gia. Từ buổi trưa ngày 28/7 âm lịch, mọi ngã đường hướng về Vạn Niên Phong cung đều “ngựa xe như nước, áo quần như nêm”. Vào lễ, vị chủ lễ, các vị bô lão bày toàn bộ lễ vật mà dân làng và thiện nam tín nữ gần xa mang đến, nhất thiết phải có heo trắng toàn sinh toàn sắc (heo làm sạch để nguyên con), heo quay, trà rượu, hoa quả, hương đăng… ra những chiếc bàn dâng cúng Bổn Đầu công, sau nữa là “chiêu u cô hồn” được tiếp một bữa no đủ.

Khi những hồi kinh Phật vừa chấm dứt là lúc những dàn lầu cấu (nhạc lễ người Hoa) vang lên sôi động cùng tiếng vỗ tay, reo hò của hàng ngàn người vây quanh. Trong nên bầu không khí vừa linh thiêng vừa ma quái rất đặc trưng của lễ hội, bất thình lình Bổn Đầu công “đạp đồng” về “nhập xác”. Đức ông sẽ “mượn xác” một người Hoa trung niên tại địa phương thể hiện oai linh của mình bằng cách múa may quay cuồng, nói thứ ngôn ngữ Triều Châu cổ, chân không đi trên những hòn than cháy đỏ, tự xuyên những thanh kim loại dài qua mặt mình, dùng dao bén tự rạch lưỡi lấy máu vẽ bùa ban phát cho người dự hội. Xác Đức ông vừa đi “củ soát” (tức kiểm tra) các vật phẩm dâng cúng vừa cất lời tiên tri về thời tiết, mùa màng, chuyện làm ăn mua bán… của người bổn phố trong năm sắp tới.

Tín ngưỡng thờ Ông Bổn của người Hoa Cầu Kè, Trà Vinh khá tương đồng với tín ngưỡng thờ Thần Thành hoàng bổn cảnh của người Việt. Trong bối cảnh tình đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống của cộng đồng các dân tộc Kinh – Khmer – Hoa Cầu Kè luôn được đặt lên hàng đầu thì tín ngưỡng thờ Ông Bổn và lễ hội Cúng Ông Bổn đã có sự giao lưu, tiếp biến một cách hài hòa nhiều sắc thái tín ngưỡng – tôn giáo khác như Phật giáo, tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ Neakta… Qua lễ hội này, khối đại đoàn kết toàn dân tộc Cầu Kè càng được củng cố, tăng cường.

Tín ngưỡng thờ Ông Bổn và Vu lan thắng hội tại Vạn Niên Phong cung là một địa chỉ du lịch văn hóa tâm linh nổi tiếng của vùng đất Cầu Kè trong hơn 100 năm qua. Song song với lễ hội này, trên địa bàn Cầu Kè còn nhiều địa chỉ có tiềm năng để hình thành một chuỗi du lịch sinh thái – văn hóa – tâm linh liên hoàn bao gồm Khu Tưởng niệm Anh hùng Nguyễn Thị Út (Út Tịch), cù lao Tân Qui, nhà cổ và khu mộ cổ Huyện hàm Huỳnh Kỳ… cùng nhiều loại trái cây đặc sản như dừa sáp, măng cụt, chôm chôm, chuối táo quạ… đang chờ du khách khám phá, thưởng thức.

Cùng với Chol Chnăm Thmây, Sene Đolta, Ok Om Bok là một trong ba lễ hội quan trọng của đồng bào Khmer Nam bộ trong chu kỳ một năm.

lễ hội Ok Om Bok thế Bình

Ảnh. Lễ hội Ok Om Bok  - Thế Bình

Lễ hội Ok Om Bok còn có tên khác là lễ hội Cúng Trăng, được tiến hành vào ngày 14 và 15 tháng Kađar theo Phật lịch, tức là Mười bốn và Rằm tháng Mười âm lịch. Theo quan niệm của người Khmer, Mặt Trăng là vị Thần có quyền năng chi phối mùa màng trong canh tác nông nghiệp. Sau khi thu hoạch những sản phẩm đầu tiên của mùa vụ, người ta tiến hành nghi thức cúng tế để tạ ơn Thần Mặt Trăng đã cho một mùa bội thu, giúp phum sóc no đủ. Theo nghĩa đó, Lễ hội Ok Om Bok của người Khmer có sự tương đồng với lễ hội Thượng điền của người Việt.

Về mặt ngữ nghĩa, Ok Om Bok có nghĩa là “Đút cốm dẹp bằng cách bốc bằng tay” nên lễ hội này còn có tên gọi khác là lễ hội Đút cốm dẹp.

lễ hội Ok Om Bok Oa Bà Om Thế Bình

Ảnh. Lễ hội Ok Om Bok  - Thế Bình

Tuyệt đại đa số người Khmer Trà Vinh gắn chặt cuộc đời mình, gia đình, phum sóc với sản xuất nông nghiệp, nên Ok Om Bok là lễ hội rất quan trọng, được tiến hành ở mỗi gia đình, trong từng ngôi chùa và trên qui mô toàn tỉnh.

Ở mỗi gia đình hay mỗi ngôi chùa, người ta chọn khoảng sân cao ráo, sạch sẽ và khoáng đãng để có thể nhìn rõ mặt trăng làm nơi tiến hành cúng tế. Khi mặt trăng vừa nhô cao, chiếu ánh sáng khắp mọi nơi cũng là lúc lễ hội bắt đầu, mọi người tề tựu trên vuông chiếu trải sẵn. Vị chủ tế bày các vật phẩm của gia đình, phum sóc vừa thu hoạch, bao giờ cũng phải có cốm dẹp, chuối, khoai… ra cúng, rồi khấn nguyện tạ ơn Thần Mặt Trăng, Thần Nước, Thần Đất Đai… đã cho con người mùa vụ bội thu. Sau đó, người có tuổi sẽ bốc và vo cốm dẹp thành từng viên, kèm theo khoai, chuối… đút cho trẻ vừa xoa vào lưng và hỏi chúng ao ước gì? Những lời nói hồn nhiên có phần ngây ngô của trẻ cũng là ước muốn mà mỗi nhà, mỗi phum sóc gởi đến Thần Mặt Trăng.

Ở cấp tỉnh, lễ hội Ok Om Bok Trà Vinh diễn ra trong hai ngày Mười bốn và Rằm âm lịch, tại hai địa điểm chính là sông Long Bình chảy qua trung tâm thành phố và Ao Bà Om thuộc Phường 8, thành phố Trà Vinh.

Buổi trưa ngày Mười bốn tháng Mười, khi nước thủy triều lên cao, cuộc đua ghe ngo chính thức bắt đầu và thường kéo dài 3 – 4 giờ đồng hồ giữa các đội ghe ngo của các nhà chùa đại diện cho thành phố Trà Vinh và các huyện trong tỉnh, có khi mở rộng mời các tỉnh trong khu vực cùng tham gia. Ghe ngo là phương tiện di chuyển truyền thống trên sông nước của người dân Khmer Nam bộ, có dạng hình rắn thần Nagar, với 40 – 50 tay bơi, tùy theo qui định. Trong nền nhạc ngũ âm truyền thống, trong tiếng hò reo cổ vũ của hàng chục ngàn người dự hội vây kín hai bên bờ sông, những chiếc ghe ngo được chia thành từng cặp tranh vòng loại, chọn ra bốn chiếc vào vào bán kết và hai chiếc xuất sắc nhất tranh chung kết. Đội ghe ngo giành giải nhất vừa được nhận thưởng của Ban Tổ chức vừa được bà con phum sóc vinh danh, chiêu đãi rất trọng thị.

Đua ghe ngo là môn thể thao sôi động phục vụ hàng chục ngàn người xem, nhưng cũng là nghi thức truyền thống tạ ơn Thần Nước sau chu kỳ gieo cấy – thu hoạch vừa tiễn đưa Thần Nước về với biển cả ở thời điểm mùa mưa kết thúc, chuyển sang mùa khô trong chu kỳ một năm.

Ngày Rằm tháng Mười tại khu di tích danh thắng Ao Bà Om, đông đảo người dân thuộc cộng đồng các dân tộc Trà Vinh và một số tỉnh lân cận đổ về tham quan thắng cảnh nổi tiếng và tham gia các trò chơi dân gian như kéo co, đập nồi, đẩy gậy, đi cà kheo cùng các môn thể thao như chạy việt dã, bóng chuyền thanh niên dân tộc…

Khi mặt trăng vừa lên cao, một số vị bô lão được cử ra thay mặt cho 143 ngôi chùa và toàn thể đồng bào Khmer trong tỉnh tiến hành nghi thức Cúng Trăng. Vật phẩm là những sản phẩm nông nghiệp vừa thu hoạch như cốm dẹp, khoai, chuối, dừa, mía… dâng lên Thần Mặt Trăng, Thần Nước, Thần Đất Đai vừa tạ ơn vừa xin lỗi vì trong quá trình lao động sản xuất, con người đã làm tổn hại, ô uế các vị thần.

Sau khi nghi thức cúng tế kết thúc, những chiếc đèn gió to lớn làm bằng nan tre và vải, có bùi nhùi tạo lửa bên trong, được đốt và thả lên trời cao. Theo quan niệm của các dân tộc thuộc hệ văn minh lúa nước, lửa là phương tiện duy nhất để con người có thể giao tiếp với thế giới thần linh nên đèn gió bay lên sẽ mang theo ước nguyện của con người về mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, con người no đủ đến với Thần Mặt Trăng. Ngày nay, vì sự an toàn chung, nghi thức thả đèn gió không còn được tiến hành.

Ngay sau đó, mỗi huyện cử ra một ngôi chùa đại diện thực hiện nghi thức thả hoa đăng. Chiếc hoa đăng lớn được đưa lên xe, phía trước có đội múa Chayyam và dàn nhạc ngũ âm mở đường, phía sau xe là sư sãi và bà con phum sóc cầm đèn nhỏ đi bộ diễu hành dọc theo bốn bờ Ao bà Om, hình thành một đám rước tráng lệ với những âm thanh, màu sắc làm náo nức lòng người. Kết thúc diễu hành, toàn bộ hoa đăng của các huyện, thành phố đều được thả xuống mặt nước Ao Bà Om, tạo ra không khí huyền diệu suốt đêm lễ hội.

Bên cạnh đó, nhiều hình thức nghệ thuật sân khấu chuyên nghiệp và diễn xướng dân gian truyền thống của đồng bào Khmer được tổ chức phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí của người dân.

Ngày nay, gắn với lễ hội Ok Om Bok truyền thống của đồng bào Khmer, các cơ quan chức năng tỉnh Trà Vinh tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại, du lịch, hội chợ.

Ok Om Bok là một lễ hội dân gian truyền thống của đồng bào Khmer Nam bộ được tổ chức theo chu kỳ hàng năm. Lễ hội này là sự phản ánh, lưu giữ và truyền thừa những giá trị tích cực của tín ngưỡng đa thần cổ xưa của một tộc người gắn chặt cuộc đời mỗi con người, mỗi gia đình và cả phum sóc với ruộng đồng, mùa vụ và thiên nhiên.

Từ một lễ hội của đồng bào dân tộc Khmer, ngày nay, Ok Om Bok đã trở thành một hoạt động văn hóa chung của cộng đồng các dân tộc trong tỉnh, có tác động rất lớn trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống và củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc tại địa phương.

Lễ hội Ok Om Bok của đồng bào Khmer Nam bộ, trong đó có lễ hội Ok Om Bok Trà Vinh đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia vào năm 2015.

Lễ hội Cúng biển Mỹ Long, còn có tên gọi khác là lễ hội Nghinh ông hay lễ Tế Cửa Nam Hải, là một lễ hội dân gian truyền thống tiêu biểu của cộng đồng cư dân người Kinh sinh sống bằng nghề hạ bạc trên vùng đất ven biển Trà Vinh.

Lễ hội Cúng biển diễn ra vào hai ngày 11 và 12 tháng Năm âm lịch hàng năm tại ngôi miếu thờ Bà Chúa Xứ, mở rộng ra khắp địa bàn thị trấn Mỹ Long, huyện Cầu Ngang, cách thành phố Trà Vinh 30 km, về hướng đông. Cúng biển từ lâu đã trở thành ngày hội lớn không chỉ của ngư dân Mỹ Long, người dân trong tỉnh Trà Vinh mà còn thu hút đông đảo khách thập phương từ các tỉnh lân cận như Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Sóc Trăng… về tham dự.

 Thị trấn Mỹ Long, còn có tên gọi dân gian là Bến Đáy, vốn là ngôi làng nhỏ ven cửa biển Cung Hầu, được lập khoảng thế kỷ XVI – XVII bởi các thế hệ ngư dân gốc gác từ các tỉnh ven biển Nam Trung bộ di cư vào. Cũng như nhiều làng chài khắp Nam bộ, khi ngư dân miền Trung di cư vào luôn mang theo hành trang văn hóa bản địa, trong đó có tín ngưỡng thờ Cá voi. Đối với người đi biển, Cá voi là vị phúc thần hóa thân từ chiếc áo cà sa của đức Phật, được đức Phật giao sứ mạng tuần tra và sẵn sàng ra tay cứu giúp khi có tàu thuyền không may lâm nạn giữa gió to sóng dữ. Tương truyền, khi chúa Nguyễn Ánh bị nghĩa quân Tây Sơn truy đuổi đến bờ nam cửa biển Cung Hầu thì Cá voi nổi lên, đưa ngài cùng đám tàn quân vượt sóng sang bờ cù lao Cổ Chiên an toàn. Sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã ban sắc phong cho Cá voi là Quốc gia Nam Hải Cự tộc Ngọc lân chi thần hay còn gọi là Nam Hải Đại tướng quân, được ngư dân các làng ven biển tôn thờ. Khi đức Ông lỵ (tức Cá voi chết) và dạt vào bờ, ngư dân sở tại có nhiệm vụ phải tổ chức tang lễ, sau đó dựng lăng đưa di cốt vào thờ. Ngày giỗ đức Ông trở thành ngày hội của làng.

Tuy nhiên, do cửa biển Cung Hầu tại thị trấn Mỹ Long là bãi bồi phù sa nên trong lịch sử, chưa từng được đức Ông lỵ nên không có lăng Ông và cũng chẳng có ngày giỗ Ông để làng chài mở hội. Với niềm tin sẵn có, mỗi năm cứ đến lệ tháng Năm âm lịch là cả làng nghề đáy biển Mỹ Long giong thuyền sang cù lao Cổ Chiên, bên kia cửa biển Cung Hầu, bày tỏ lòng thành tế tự cùng người dân địa phương. Cửa biển rộng nhiều gió to sóng dữ, cộng thêm chiến tranh loạn lạc, việc đi lại khó khăn nguy hiểm nên dần dần ngư dân Mỹ Long cung thỉnh linh vị đức Ông về phối tự tại ngôi miễu Bà Chúa Xứ vừa xây dựng giữa làng chày Bến Đáy. Từ cuối thập niên 1920, lễ hội Cúng biển hay lễ hội Nghinh ông Mỹ Long chính thức được tiến hành long trọng và duy trì cho đến ngày nay.

Do được phối tự tại ngôi miếu Bà Chúa Xứ nên lễ hội Cúng biển Mỹ Long bao gồm một chuỗi các nghi thức vừa là lễ hội Nghinh ông vừa là lễ hội Vía bà. Đây chính là nét đặc thù của lễ hội Cúng biển Mỹ Long so với các lễ hội cùng dạng thức tại các tỉnh ven biển từ Trung bộ vào Nam.

Đầu tiên là lễ Tế Tiên hiền – Hậu hiền được tiến hành vào sáng sớm ngày 11 tháng Năm âm lịch. Tiên hiền – Hậu hiền là những bậc trên trước có công khai hoang lập làng, khai sáng nghề đóng đáy biển để con cháu có được làng nghề trù phú hôm nay, theo đúng đạo lý uống nước nhớ nguồn truyền thống của dân tộc.

Nghi thức Tế Tiên hiền – Hậu hiền vừa xong cũng là lúc thủy triều bắt đầu lên, khoảng 9 giờ sáng ngày 11 tháng Năm âm lịch, là lễ Nghinh ông – nghi thức chính của lễ hội Cúng biển. Trước khi Nghinh ông, đoàn rước gồm các vị chức việc, các bô lão hóa trang thành Quan Công, Châu Xương, Quan Bình cùng vị pháp sư và một số ngư dân có tuổi lên chiếc thuyền đánh cá có năng suất tốt nhất trong mùa đi biển vừa qua để ra khơi nghinh đức Ông về chứng giám. Chiếc thuyền cứ thế ra khơi, đến khi gặp đức Ông vọi ba vòi nước lên trời thì xem như đức Ông thuận. Ngày nay, nguồn lợi biển suy giảm, cá voi trở nên rất hiếm chẳng thể gặp trên biển nên người ta buộc phải gieo quẻ xin keo, khi keo thuận thì xem như đức Ông thuận. Đám rước làm lễ Tạ ơn rồi quay thuyền trở về, đưa linh vị đức Ông ngự trên án thờ bên cạnh án thờ Bà Chúa Xứ trong chánh điện ngôi miếu.

Buổi chiếu ngày 11 tháng Năm âm lịch, sau khi cung thỉnh đức Ông về, ban tổ chức tiến hành nghi thức Tế Thần nông. Tuy là làng chài, đại đa số bằng nghề đi biển nhưng truyền thống văn minh lúa nước cội nguồn vẫn chi phối đời sống tâm linh người dân thị trấn Mỹ Long. Tế Thần nông – vị thần cai quản mùa màng được tiến hành trọng thể, với các lễ thức như những ngôi làng thuần nông khác.

Buổi tối ngày 11 tháng Năm âm lịch là nghi thức Chánh tế Bà Chúa Xứ kèm theo các hoạt động bóng rỗi - địa nàng đặc trưng của lễ hội Vía bà diễn ra đến tận khuya.

lễ hội nghinh ông An Võ

Ảnh. An Võ

Nghi thức Nghinh ngũ phương được tiến hành vào buổi sáng ngày 12 tháng Năm âm lịch. Từ trung tâm ngôi miều Bà Chúa Xứ, đoàn người hóa trang giống như khi Nghinh ông chiều hôm trước cùng đoàn lân, dàn nhạc và nhiều dân làng bổn hội hình thành đám rước qua các xóm dân cư vòng quanh thị trấn. Trên đường đi, đám rước sẽ nhận gạo muối, giấy tiền vàng bạc của người dân từ các bàn hương án cho vào bàn nghinh, hàm ý gom hết bao điều xui rủi, tai ương, dịch bệnh để làng xóm được bình an, sức khỏe dồi dào cho mùa đi biển mới.

Cuối cùng là nghi thức Tống quái diễn ra vào khoảng 9 giờ ngày 12 tháng Năm âm lịch. Nhiều lễ vật, trong đó phải có con heo trắng “toàn sinh toàn sắc” (kèm đủ lông, huyết, lòng) cùng hương đăng, trà rượu, hoa quả, gạo muối, vàng mã… có những hình nhân tài công, ngư phủ được đặt lên một chiếc thuyền nhỏ, trang trí rực rỡ. Đoàn người hóa trang giống như khi nghinh ông vây quanh chiếc thuyền nhỏ đặt trên chiếc xe kéo quanh thị trấn hình thành đám rước rất đông vui. Sau đó, chiếc thuyền nhỏ được chiếc tàu thực hiện nghi thức Nghinh ông hôm qua kéo ngược ra khơi, theo sau là hàng chục chiếc tàu thuyền và hàng trăm ngư dân hình thành đám rước nhộn nhịp trên biển. Ra đến vị trí đã nghinh ông hôm qua, chiếc thuyền chở lễ vật được cắt dây thả trôi trên biển. Nghi thức Tống quái thể hiện lòng biết ơn của ngư dân đối với đức Ông, đối với biển cả về một mùa đi biển đã qua và xua đuổi mọi xui rủi, tai ương và cầu cho mùa biển sắp tới mưa thuận gió hòa, sóng yên biển lặng, công việc đánh bắt hải sản gặp nhiều hanh thông, thuận lợi.

Cúng biển Mỹ Long là một hoạt động văn hóa truyền thống gắn với tín ngưỡng thờ Cá voi được người dân thị trấn Mỹ Long bảo tồn và thực hiện liên tục trong gần một thế kỷ đã qua. Qua từng năm, lễ hội này được tiến hành một cách trọng thể, quy củ hơn, thu hút đông đảo hơn người dân trong, ngoài tỉnh và là dịp để những người con của quê hương đang định cư, làm ăn, sinh sống ở nước ngoài tìm về cội nguồn, thăm lại quê cha đất tổ.

Năm 2013 Lễ hội Cúng biển Mỹ Long đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 3820/QĐ/BVHTTDL, đưa vào danh mục Di sản Văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

Tour du lịch

THỐNG KÊ TRUY CẬP

10596367
Hôm nay
Hôm qua
Tất cả
1143
3780
10596367

Đang truy cập (15 phút):198
TRUNG TÂM THÔNG TIN XÚC TIẾN DU LỊCH TRÀ VINH
  • Giấy phép xuất bản số: 07/GP-STTTT-BCXB ngày cấp 13/11/2015 Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Trà Vinh
  • Địa chỉ : 07 Phan Châu Trinh - phường 1 - Thành phố Trà Vinh - Tỉnh Trà Vinh
  • Điện Thoại : 0294 3851819 - 0294 3841819 Fax : 0294 3841494
  • Email : ttxtdltravinh@gmail.com
  • Website: www.dulichtravinh.com.vn - www.travinhtourism.com.vn

Search